「Talhand của Đại Phong Hùng Vĩ」
『Đại Phong Hùng Vĩ Talhand』 là người con thứ 37 trong một gia đình có 51 anh chị em.
Ông sinh ra trong một gia đình bình dân thuộc tộc Dwarf, lớn lên trong vòng tay của biết bao anh chị em.
Đương nhiên, 51 người con này không phải do cùng một người phụ nữ sinh ra. Có một điều mà ít ai biết đến, đó là tại các ngôi làng của tộc Dwarf, những đứa trẻ cùng trang lứa sẽ được tập hợp lại với nhau.
Nơi đó giống như một ngôi trường vậy, nhưng ngay cả khi đã rời khỏi tập thể ấy, họ vẫn coi nhau là anh em cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay.
Việc để những đứa trẻ cùng thế hệ chung sống như anh em ruột thịt nhằm xóa bỏ nhận thức về khoảng cách giàu nghèo giữa các gia đình, đồng thời tạo nền tảng cho một mối quan hệ hòa hảo khi chúng gánh vác tương lai của ngôi làng sau này.
Trong số những người anh em đó, sẽ có người trở thành trưởng làng, có người phò tá, và cũng có người sẽ trở thành vợ của họ.
Dĩ nhiên, truyền thống này chỉ tồn tại trong môi trường an bình tại ngôi làng của tộc Dwarf mà thôi.
Những người Dwarf sống bên ngoài ngôi làng không hề có phong tục như vậy.
Dù sao đi nữa, Talhand cũng đã khôn lớn cùng với hàng chục người anh em của mình.
Ông từng là một đứa trẻ rất đỗi bình thường. Ông tò mò về đất và sắt, say mê hương rượu, và luôn ấp ủ ước mơ trở thành một thợ rèn hay kiến trúc sư.
Điểm khác biệt duy nhất so với người bình thường có lẽ chỉ là việc ông thích đàn ông hơn phụ nữ mà thôi.
Thế nhưng, trong số anh em của ông lại có một cá nhân vô cùng xuất chúng.
Đó là em trai ông, người con thứ 38 trong số 51 anh em.
Người mang danh xưng “Godbard Của Đỉnh Cao Kiêu Hãnh”.
Godbard là một kẻ đầy tài năng. Ngay từ khi mới nhận thức được thế giới xung quanh, những đứa trẻ của tộc Dwarf đã được rèn giũa các kỹ năng như rèn đúc, thủ công mỹ nghệ và thủy thổ ma pháp cơ bản, nhưng giữa một rừng nhân tài ấy, Godbard vẫn tỏ ra áp đảo hoàn toàn.
Hễ cầm búa lên, cậu ta có thể rèn ra loại thép cứng cáp chẳng kém gì người lớn; bắt tay vào làm thủ công, cậu ta sẽ tạo ra những món trang sức tuyệt mỹ đến mức khó tin; và chỉ cần liếc nhìn một tòa nhà, cậu ta liền khắc phục ngay lập tức những chỗ hỏng hóc.
Tuổi thọ của tộc Dwarf vốn dài hơn Nhân tộc rất nhiều.
Vào thời điểm Godbard bộc lộ tài năng của mình, những trưởng lão từng trải qua Chiến dịch Laplace vẫn còn sống.
Nhìn thấy Godbard, họ thốt lên “Đứa trẻ này hệt như hiện thân của vị Khoáng Thần đời trước đã ngã xuống trong Chiến dịch Laplace vậy.”
Từ lời nói của các vị trưởng lão, Godbard nghiễm nhiên trở thành ứng cử viên cho ngôi vị Khoáng Thần đời tiếp theo và nhận được sự ưu ái đặc biệt.
Đám trẻ cũng bị ép buộc phải kính trọng cậu như một người sẽ lãnh đạo cả ngôi làng trong tương lai.
Cũng chính từ lúc đó, Talhand bắt đầu thay đổi.
Ông không còn hứng thú với rèn đúc hay thủ công nữa. Bởi lẽ ông hiểu rõ, dẫu bản thân có dồn bao nhiêu tâm huyết đi chăng nữa, sản phẩm làm ra vẫn sẽ kém xa những thứ mà Godbard chỉ tiện tay tạo thành. Không phải vì ông bị ai đó đem ra so sánh. Vốn dĩ, những người lớn chỉ để mắt tới các tác phẩm của Godbard, nên ngay từ đầu đã chẳng tồn tại sự so sánh nào sất.
Vậy phải chăng Talhand khao khát vị trí đứng đầu?
Không hề. Ông không hề mong muốn trở thành người giỏi nhất.
Vậy phải chăng ông chán ghét việc phải cúi đầu kính trọng Godbard?
Cũng sai nốt. Talhand vốn rất thân thiết với Godbard.
Khi họ được tập hợp lại thành anh em, người đầu tiên ông kết thân cũng chính là Godbard.
Thậm chí, Godbard còn là mối tình đầu của Talhand. Thế nên, việc Godbard trở thành Khoáng Thần là một điều vô cùng đáng mừng.
Suy cho cùng, Talhand chỉ luôn tâm niệm bằng mọi giá phải trở thành người có ích cho Godbard.
Ông muốn bù đắp những khiếm khuyết của Godbard và trở thành cánh tay phải đắc lực cho cậu ấy.
Và thứ mà Talhand dồn hết tâm huyết vào chính là ma pháp.
Ông đặc biệt chú trọng lĩnh hội Thủy ma pháp và Phong ma pháp, những thứ bị coi là vô giá trị trong mắt tộc Dwarf.
Tương truyền rằng, Khoáng Thần đời thứ nhất là một người sử dụng Thổ ma pháp cấp Thần, ngài đã rèn nên một thanh tuyệt thế bảo kiếm từ loại quặng do chính ma pháp của mình tạo ra. Tuy nhiên, người ta cũng rỉ tai nhau, vào lúc vị Khoáng Thần ấy rèn ra danh kiếm, đã có sự trợ giúp của một tộc Elf lão luyện về Phong ma pháp và Thủy ma pháp.
Nghề rèn không thể chỉ dựa vào đất và lửa. Muốn ngọn lửa cháy bừng thì cần phải có gió, muốn tôi luyện thép cho nguội thì phải cần đến nước. Chân lý ấy rõ rành rành ra đó, vậy mà những người lớn của tộc Dwarf lại bảo thủ đến mức không thèm thấu hiểu.
Nào là truyền thống, nào là lễ giáo, nào là tổ tiên từ cổ chí kim, nào là tộc Dwarf vốn kém cỏi với nước và gió…
Họ lôi ra đủ mọi thứ lý do trên đời cốt chỉ để ngáng đường, ngăn cản Talhand lĩnh hội Thủy ma pháp và Phong ma pháp.
Kể ra thì, so với hệ Nước hay hệ Gió, bản thân Talhand cũng thành thạo Thổ ma pháp hơn rất nhiều.
Thế nhưng, Godbard đã nói.
“Em thấy như vậy rất tuyệt. Đám người lớn trong làng thật sự quá cứng nhắc.”
Talhand như được tiếp thêm dũng khí từ câu nói đó, để rồi lại càng vùi mình sâu hơn vào con đường ma pháp.
Cứ như thế, Talhand dần trở nên lạc lõng và xa cách với chuẩn mực của đàn ông tộc Dwarf.
Chuyện gì đến cũng sẽ đến, ngay cả trong số anh em cũng bắt đầu xuất hiện những kẻ buông lời dèm pha Talhand.
Nào là Talhand quá nhu nhược, thân nam nhi tộc Dwarf Thợ Mỏ mà không biết rèn đúc thì thật ẻo lả khó chấp nhận. Rằng ma pháp chỉ cần dùng đủ để làm mềm mấy tầng đá cứng là được rồi, và những vật liệu dùng để rèn nên được khai thác từ tự nhiên mới là chuẩn mực.
Mặc dù cảm thấy ghê tởm trước những lời đàm tiếu ấy, Talhand vẫn lặng lẽ ngày đêm mài giũa kỹ năng của mình.
Tất cả là vì Godbard. Ông tin chắc rằng khi cậu ấy trưởng thành và trở thành Khoáng Thần, nhất định sẽ cần đến sức mạnh của mình.
Ông đã luôn tin tưởng mãnh liệt vào điều đó.
Ngay cả khi đã trưởng thành, khi những lời chỉ trích đã biến thành cái tặc lưỡi ngán ngẩm, khi bị hắt hủi bởi chính những người anh em trong làng, hay thậm chí bị gán cho cái mác kẻ dị hợm gàn dở nhất nơi đây, ông vẫn luôn một mực tin tưởng như thế.
Rồi cái ngày ấy cũng đến.
Cái ngày mà Godbard chính thức được bổ nhiệm làm Khoáng Thần.
Lễ kế nhiệm chức vị Khoáng Thần sẽ diễn ra theo đúng truyền thuyết: ứng cử viên Khoáng Thần phải rèn ra 5 thanh kiếm.
Khi rèn 5 thanh kiếm này, mỗi thanh sẽ có một người trợ thủ đắc lực nhất do chính tay ứng cử viên chọn lựa.
Đích thân Khoáng Thần sẽ chọn ra những người đó: từ người vợ, người tri kỷ, cho đến những trụ cột sẽ cùng ngài gánh vác tương lai của ngôi làng tộc Dwarf.
Talhand, như một lẽ đương nhiên, đã tự ứng cử cho vị trí đó.
Ông khẳng định rằng bản thân đã dày công khổ luyện bao năm qua cũng chỉ vì một ngày này mà thôi.
Thế nhưng, điều đáng kinh ngạc là Godbard lại không hề chọn Talhand. Thay vào đó, cậu ấy chọn những kẻ có tay nghề được coi là xuất sắc nhất làng lúc bấy giờ, rồi cả người yêu của mình… Những chuyện đó thì ông vẫn có thể ngậm bồ hòn làm ngọt. Cho đến người cuối cùng, ông ấy lại chọn đúng cái lão già bảo thủ luôn mồm xỉa xói Talhand là một kẻ ngu xuẩn.
Talhand đã lên tiếng phản đối.
Sao có thể chấp nhận một chuyện hoang đường đến thế này được chứ, anh làm tất cả mọi thứ là vì em cơ mà, ông quát lên.
Thế nhưng, Godbard lại phũ phàng đáp.
“Thế anh có tự rèn nổi một thanh kiếm cho ra hồn không?”
Không chút do dự, Talhand quả quyết.
“Rèn được, anh chắc chắn làm được, thế nên hãy cho anh một cơ hội đi!”
Nhìn dáng vẻ khẩn khoản của anh trai mình, Godbard khẽ nhíu mày cay đắng nhưng rồi cũng gật đầu chấp thuận.
Vậy là một cuộc so tài đã được định đoạt giữa lão già bảo thủ kia và Talhand. Mỗi người sẽ tự tay rèn một thanh kiếm để phân cao thấp.
Ngoài ra, để đảm bảo tính công bằng, họ còn kêu gọi bất kỳ ai tự tin vào tay nghề của mình cũng có thể đứng ra tham dự.
Kết quả là, những người tham gia tụ tập đông như trẩy hội.
Lúc này, Talhand mới sững sờ bàng hoàng.
Suốt bao năm qua, ông vắt kiệt sức mình mài giũa Thủy ma pháp và Phong ma pháp cũng chỉ vì thời khắc này đây, vậy mà ông lại gần như chẳng thèm đụng tới việc tu luyện nghề rèn từ thủa nhỏ. Số lần ông thực sự nghiêm túc rèn ra một thanh kiếm có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Quá mức bất lợi rồi.
“Khoan đã, thứ anh muốn là được làm người trợ thủ rèn kiếm cho em cơ mà!”
Lời van nài thiết tha ấy, lại bị chối từ bằng một gáo nước lạnh.
“Một kẻ đến việc tự mình rèn ra một thanh kiếm tử tế còn không xong, thì sao có thể thấu hiểu được ý đồ của em chứ? Không thấu hiểu được ý đồ, thì việc phò tá em cũng chỉ là hão huyền mà thôi.”
Đầu óc ông hoàn toàn trống rỗng, không thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Ông đã luôn đinh ninh rằng, trên cõi đời này, chẳng một ai có thể nắm bắt được suy nghĩ của Godbard tốt hơn mình.
Vậy mà tại sao…
Rơi vào vòng xoáy của sự hỗn loạn, Talhand sau đó đành bước vào cuộc tỷ thí mà chẳng hề chuẩn bị bất kỳ đối sách nào…
Và ông đã thua một cách thảm hại.
Trái tim tan nát, Talhand lầm lũi rời khỏi chốn đó trong những ánh nhìn ghẻ lạnh và mỉa mai của tất thảy mọi người.
Để rồi vài ngày sau đó, ông dứt áo rời khỏi ngôi làng, ngoái nhìn buổi lễ nhậm chức Khoáng Thần từ một nơi xa xăm.
Kể từ dạo đó, Talhand rong ruổi khắp chốn với tư cách là một mạo hiểm giả.
Về cơ bản, ông chỉ hành động một mình.
Một phần là vì sau sự việc với Godbard, ông không còn đặt nhiều niềm tin vào người khác nữa.
Một phần khác là vì đã sống trong sự hắt hủi quá lâu, nên ông cũng chẳng biết phải đối nhân xử thế ra sao.
Việc bản thân chuộng nam sắc cũng là một lý do khiến ông mang mặc cảm tự ti.
Tay nghề rèn đúc thuộc hàng bét nhất trong tộc Dwarf, bù lại nhờ quãng thời gian dài không ngừng mài giũa, ông cũng được coi là một ma pháp sư có hạng.
Tất nhiên, cũng chỉ ở mức “có hạng” mà thôi. Chính vì thế, ông đành khoác lên mình bộ giáp trụ nặng nề, áp dụng lối đánh lai tạp giữa chiến binh và ma pháp sư. Dẫu vậy, việc Talhand xoay xở với công việc của một mạo hiểm giả solo cũng chẳng có gì là quá khó khăn.
Khi Talhand thăng lên hạng B, ông đã tình cờ gặp gỡ một người.
Đó là Elinalise Dragonroad. Ban đầu, ả ta chỉ nhắm đến cơ thể của Talhand.
Chắc mẩm ả có ý nghĩ kiểu (Lâu lâu đổi vị xơi thử một thằng nhãi Dwarf xem sao). Thế nhưng, ngặt nỗi Talhand lại là người chuộng nam sắc, nên ông chẳng mảy may hứng thú gì với Elinalise. Dù ả có lơi lả mồi chài đến đâu, ông cũng nhất quyết không cắn câu.
Nhưng vì ả cứ bám riết lấy quá phiền phức, nên cuối cùng ông đành phải huỵch toẹt ra rằng mình chỉ thích đàn ông.
Elinalise nghe xong thì ngớ người ra một lúc, rồi sau đó phá lên cười sằng sặc.
Talhand cảm thấy tiếng cười ấy thật vô duyên và chướng tai.
Tuy nhiên, ông vẫn cắn răng nhẫn nhịn, đinh ninh thế là từ nay thoát nợ được cái ả Elf dâm đãng này rồi.
Thế mà không, Elinalise vẫn chẳng chịu buông tha cho Talhand. Chẳng rõ lý do là vì sao.
Có lẽ ả nghĩ, nếu đi cùng Talhand thì sẽ chẳng lo vướng phải rắc rối tình ái nào.
Sau dạo đó, Talhand và Elinalise thỉnh thoảng lại lập tổ đội tạm thời với nhau vài lần.
Một chiến binh xuất sắc như Elinalise lại phối hợp cực kỳ ăn ý với một ma pháp sư khoác giáp nặng như Talhand.
Lập tổ đội chung với kẻ mà mình từng thấy chướng mắt, ấy vậy mà thật kỳ lạ, ông lại chẳng hề cảm thấy khó chịu chút nào.
Có lẽ là bởi Elinalise vốn là một kẻ chẳng thèm đoái hoài đến những thứ như thường thức, truyền thống, lễ giáo hay luật lệ.
Mặc dù vậy, cả hai cũng chẳng ai đả động gì đến chuyện thành lập tổ đội cố định.
Thế nhưng, sự xuất hiện của một thiếu niên nọ đã làm thay đổi cục diện đôi chút.
Paul Greyrat.
Cậu ta đã đứng ra kêu gọi những con người đang hoạt động rải rác lúc bấy giờ gồm Elinalise, Talhand, Gisu và Ghyslaine lại với nhau để thành lập một tổ đội.
Đó chính là đội 『Hắc Lang』.
Quá trình thành lập nên đội cũng trải qua ầm ĩ một phen, nhưng thôi, chuyện đó tạm gác lại đã.
Các thành viên của 『Hắc Lang』 toàn là những kẻ bị chính thế giới mình đang sống hắt hủi.
Dù chỉ có mỗi Talhand là chuộng nam sắc, nhưng tất thảy bọn họ đều sống cực kỳ trần trụi và trung thành với dục vọng của chính mình.
Đặc biệt là Paul, một kẻ đầy phá cách và phóng túng. Khi biết Talhand thích đàn ông, cậu ta chỉ cười phá lên rồi phán một câu xanh rờn, “Thế thì tôi xơi gái, Elinalise xơi trai, còn ông thì hốt đám còn lại, chia chác vậy là quá vẹn cả đôi đường rồi còn gì.”
Paul đích thị là một thằng nhãi ranh rành rành ra đó, rặt toàn làm dăm ba cái trò khiến người ta phải thở dài ngán ngẩm.
Thế nhưng, những hành động ấy chưa từng bị gò bó bởi bất kỳ khuôn phép nào.
Đó cũng chẳng phải những hành động bắt nguồn từ thường thức. Cho dù đó có là chuyện bị người đời gán mác là suy đồi đạo đức đi chăng nữa, Paul vẫn nhất nhất làm theo ý mình, nhổ toẹt một bãi nước bọt rồi buông thõng một câu “Bố mày quan tâm chắc?”
Đối với Talhand, những hành động khiến ông như được sáng mắt ra ấy, lại được Paul cười cợt và làm một cách nhẹ tênh.
Chính vì những trò của Paul mà tiếng ác của 『Hắc Lang』 cùng các thành viên cứ thế vang xa, nhưng phải thừa nhận là thời gian đó rất đỗi vui vẻ.
Mỗi lần Paul giở trò gì đó, Talhand lại mang đúng bản sắc của tộc Dwarf mà cười phá lên khanh khách.
Thứ cảm xúc ông dành cho bọn Paul rất giống với tình yêu, nhưng lại có chút khác biệt.
Có lẽ, đó là sự tin tưởng. Đối với Talhand, họ chính là những người đồng đội đầu tiên trong đời mà ông có thể phó thác niềm tin.
Thế nhưng, niềm tin ấy đã bị đập nát.
Nó đã vỡ vụn kể từ ngày Zenith gia nhập tổ đội.
Một Paul vốn dĩ phóng túng là thế, nay vì muốn ghi điểm trong mắt Zenith mà bắt đầu mở miệng ra là nói mấy lời đạo lý thường tình.
Ông hiểu, điều đó quả thực đã giúp Paul trưởng thành hơn với tư cách là một con người.
Tuy nhiên, sau cùng Paul đã phạm phải một sai lầm. Vụ lùm xùm mà cậu ta gây ra để cưới Zenith đã cứa một vết thương hằn sâu vào tâm trí của tất cả những người có mặt lúc bấy giờ. Với người ngoài, đó có thể chỉ là một chuyện vặt vãnh cỏn con.
Nhưng riêng với Talhand, ông đã hạ quyết tâm (Cả đời này sẽ chẳng bao giờ lập tổ đội với ai nữa).
Sau đó, ông lại một mình độc hành một thời gian, cho đến khi sự kiện Lãnh địa Fittoa biến mất xảy ra.
Việc hội ngộ Elinalise, làm quen với Roxy và cùng họ lập đội đã khiến cái ý nghĩ (không bao giờ lập tổ đội nữa) trong ông phai nhạt dần, nhưng…
Nói gì thì nói, những cảm xúc mãnh liệt dành cho gã đàn ông tên Paul vẫn luôn đọng lại trong ông.
Phải đến tận sau chuyến đi khứ hồi đến Lục địa Ma, ông mới gặp lại Paul.
Lâu lắm mới thấy lại mặt Paul… Thật là, thằng nhãi ranh mà Talhand từng biết chẳng còn ở đó nữa. Chỉ còn một người đàn ông đã trưởng thành, một người cha đang tuyệt vọng lùng sục tìm kiếm gia đình mình. (Gã đàn ông này đã thay đổi rồi, đã thực sự trưởng thành rồi), Talhand thầm nghĩ.
Lần đầu tiên ông gặp con trai của Paul là ở Lục địa Begaritt.
Thằng con trai của gã Paul đó. Rudeus Greyrat. Cứ ngỡ sẽ là một thằng nhãi ranh phá gia chi tử cỡ nào, ai dè lại là một cậu nhóc chững chạc đến bất ngờ. Cơ mà, nếu là con trai của một Paul đã trưởng thành, thì chuyện đó cũng chẳng có gì lạ.
Paul và Rudeus.
Mỗi khi nhìn vào hai cha con họ, chẳng hiểu sao lồng ngực Talhand lại cuộn lên một cõi lòng thắt lại.
Chẳng rõ lý do là vì sao.
Và rồi, Paul chết.
Một cái chết quá đỗi chóng vánh.
Sốc thì có sốc thật đấy, nhưng khi thấy Rudeus còn bàng hoàng hơn mình gấp bội, ông chẳng nỡ thể hiện sự đau buồn ra mặt. Ông đành vờ như không có chuyện gì, vẫn giữ thái độ điềm nhiên mà nốc rượu như mọi ngày.
Sau đó, ông rời khỏi Lục địa Begaritt, được giới thiệu với gia đình của con trai Paul. Đứng nhìn thằng con trai của Paul ấy đã có một gia đình êm ấm, tự tay dựng xây một ngôi nhà cơ ngơi đàng hoàng, ông đã đến viếng mộ Paul, làm một bữa rượu ngay trước bia mộ, rồi khởi hành rời khỏi Thành phố Phép pháp Sharia.
Chính vào khoảnh khắc ấy, có một thứ gì đó trong Talhand đã khép lại.
Một thứ gì đó đã bám theo ông kể từ cái ngày ông chập chững bước chân vào con đường mạo hiểm giả.
Giữa sự trống rỗng bao trùm, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Talhand.
(Mình sẽ tu luyện nghề rèn).
Tại sao lại nảy ra ý nghĩ đó thì ông không rõ. Nhưng ngay lập tức, Talhand liền cất bước tới Vương quốc Asura, vừa làm công việc của một mạo hiểm giả, vừa thuê một lò rèn để vùi mình vào luyện tập. Ngay cả khi Gisu sa đọa vào cờ bạc đến mức cháy túi, phải dạt sang phía Lục địa Milis để cày cuốc kiếm tiền, ông vẫn không ngừng nghỉ việc rèn đúc.
Một kỹ thuật rèn đúc ứng dụng toàn bộ các ma pháp mà ông có thể sử dụng.
Lửa, Đất, Nước, Gió. Tất cả đều được ma pháp bù đắp.
Ông rèn kiếm, rèn găng tay, rèn khiên, lại rèn kiếm, rèn giáp, rèn mũ bảo hộ, rồi lại tiếp tục rèn kiếm.
Và rồi thật kỳ diệu, ông dần ngộ ra ý nghĩa đằng sau câu nói của Godbard năm xưa.
Ông bắt đầu cảm nhận được thứ gì đó vô cùng tinh tế, như là nhịp thở, canh thời điểm, nhịp điệu hay cách kiểm soát lực đạo - những thứ chẳng thể nào diễn tả nổi bằng lời.
Trình độ của ông thăng tiến nhanh đến chóng mặt.
Bởi lẽ hình ảnh đôi bàn tay rèn đúc của Godbard đã in sâu vào tâm trí ông, cộng thêm việc sống kiếp mạo hiểm giả bao năm đã giúp ông thừa hiểu loại vũ khí, áo giáp nào mới là thứ xuất sắc thực sự. Đó là một lợi thế vô cùng lớn.
Kỹ năng sử dụng ma pháp của ông lúc này cũng đã ở một đẳng cấp hoàn toàn khác so với hồi còn ở trong làng.
Những tháng ngày rong ruổi làm mạo hiểm giả quả thực đã trui rèn nên Talhand của hiện tại.
Cứ tiếp tục hoạt động như thế, cuối cùng cũng bắt đầu xuất hiện những người chịu bỏ tiền ra mua vũ khí và áo giáp do Talhand chế tạo.
Đó là Đội Lính Đánh Thuê Rudo. Dựa vào mối quan hệ quen biết với Rudeus, chi nhánh trưởng của đoàn lính đánh thuê này đã đứng ra làm người bảo trợ cho Talhand.
Nhờ vậy, ông đã có thể dựng lên một lò rèn của riêng mình tại một góc ở Milishion.
Thế nhưng, Talhand vẫn chẳng thể hiểu nổi, rốt cuộc ông làm những chuyện này là vì cái gì?
Ông không hiểu ý nghĩa của việc cứ diễn trò bắt chước làm thợ rèn vào những lúc rảnh rỗi giữa công việc mạo hiểm giả.
Mọi chuyện chỉ sáng tỏ, vào cái ngày mà Rudeus dẫn theo toàn bộ gia đình mình từ Thành phố Phép pháp Sharia lặn lội tới đây.
Đứa con trai ấy của Paul, nay đang nuôi dạy con cái trong khi vẫn giao thiệp sòng phẳng, thậm chí là trên cơ gia tộc Latreia.
Nhìn thấy rõ, Talhand đã giác ngộ. Ông đã thấu tỏ.
Mình phải quay trở lại ngôi làng đó. Phải dứt điểm những ân oán thuở xa xưa ấy.
Việc rèn đúc này, chính là vì mục đích đó.
★ ★ ★
Sau khi nhận lấy khối đá đen từ Rudeus, Talhand lập tức quay về lò rèn của bản thân.
Từ thuở xa xưa, ông đã luôn ấp ủ ý tưởng và vạch sẵn lý thuyết: nếu có thể tạo ra loại quặng này bằng ma pháp, mình sẽ chế tác nó như thế này.
Chuyện đó ngày trước chỉ là mộng tưởng viển vông, nhưng giờ đây ông đã tích lũy đủ quá trình rèn luyện để hiện thực hóa nó.
“…”
Trước tiên, ông dùng Thổ ma pháp và búa tạ để phân giải khối đá đen của Rudeus.
Ông đem trộn nó cùng mạt sắt rồi nung nóng trong lò. Bởi hỏa lực của lò rèn thông thường không thể làm nó nóng chảy, ông đã phải kết hợp cả Hỏa ma pháp và Phong ma pháp để đẩy nhiệt độ lên mức cực hạn.
Cả phần lõi thép lẫn lớp thép bọc ngoài đều được đúc từ hỗn hợp bột khối đá của Rudeus pha lẫn mạt sắt.
Tuy tỷ lệ pha trộn có khác nhau, nhưng về cơ bản nguyên liệu là một.
Giá như sử dụng vảy Xích Long hay xương cứng của Hydra, hẳn ông đã có thể tạo ra một thanh kiếm còn đáng gờm hơn nữa, thế nhưng Talhand đã không làm vậy. Bởi nếu làm thế, mọi chuyện sẽ chẳng còn ý nghĩa gì.
Tiếp đó, ông cẩn thận tiến hành trui thép. Suốt cả một đêm ròng rã không chợp mắt, ông chậm rãi vắt kiệt từng chút khí lực cùng ma lực, dồn sức nện búa rèn đúc không ngừng nghỉ.
Thành quả thu được, là một thanh kiếm vừa chào đời.
Một thanh kiếm mang lưỡi sắc đen tuyền, cứng cáp và kiên cố.
Chẳng mang họa tiết trang trí cầu kỳ, cũng chẳng sở hữu bất kỳ hiệu ứng đặc thù nào.
Nhưng chỉ thế thôi cũng đủ khiến Talhand mãn nguyện. Ông chế tác thêm một chiếc vỏ, dùng mảnh vải len dệt thượng hạng cẩn thận bọc lại rồi vác lên lưng.
Trút hết chỗ khối đá đen còn thừa vào túi, ông khởi hành rời khỏi Milishion.
Đích đến là ngôi làng của tộc Dwarf.
Ngôi làng tộc Dwarf mà ông ghé lại sau bao năm xa cách vẫn chẳng có gì thay đổi.
Một ngôi làng bằng đá trải dài bên sườn vách đá. Từ bên trong khu thị trấn được bao bọc bởi những bức tường đá cao chót vót, tiếng búa rèn sắt nện bôm bốp vẫn vang vọng không ngớt.
Ngang qua cổng vào, Talhand trót lọt bước qua mà chẳng bị ai tra hỏi.
Talhand vốn đã chẳng còn là người của làng, nhưng ông cũng không phải là Nhân tộc.
Lính gác của tộc Dwarf chưa tỉ mỉ đến mức phải hạch sách soi mói một Dwarf lạ mặt ra vào.
“…”
Trên vách đá là một cái hang lớn được khoét sâu, từng hệ thống ròng rọc cứ thế trượt ra trượt vào tấp nập.
Đám đàn ông cởi trần nhễ nhại mồ hôi đang hì hục khuân vác than đá và quặng sắt ra ngoài, trong khi các người phụ nữ thì oằn mình gánh lượng lớn khoai hấp trên cả hai vai, rảo bước tiến về phía trạm nghỉ dưỡng ngay trước khu mỏ.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, Talhand bỗng dâng lên một niềm hoài niệm. Mọi thứ vẫn y vẹn như cũ, cứ như thể thời gian nơi đây đã hoàn toàn ngưng đọng vậy. Nếu phải chỉ ra một điểm khác biệt, thì có lẽ là số người không biết đến cái tên Talhand đã tăng lên đáng kể.
Cảo bước trên đường, dù đôi lúc bắt gặp vài ánh mắt tò mò dò xét, nhưng những cái nhìn ghẻ lạnh mỉa mai thì lại rất hiếm hoi.
Bởi lẽ, hầu hết mọi người ở đây chẳng biết Talhand là ai, hoặc đã quên béng ông từ thuở nào rồi.
Talhand chẳng mảy may bận tâm đến chuyện đó, chỉ lẳng lặng rảo bước tiến thẳng đến nhà tộc trưởng.
Nơi ông nhắm tới chỉ có một mà thôi.
“…Lâu quá không gặp nhỉ, gã của ‘Đại Phong Hùng Vĩ’, ngươi vác mặt về đây làm gì?”
Tuy nhiên, nghiễm nhiên là vẫn có những kẻ còn nhớ đến ông. Kẻ đang đứng ngáng đường Talhand ngay lúc này, là một trong số những người anh em năm xưa. Gã đàn ông đã từng chế nhạo Talhand thời thơ ấu, kẻ đã được chọn làm tâm phúc của Khoáng Thần.
“Ta đến để gặp ngài Khoáng Thần.”
“Biết thân biết phận chút đi, loại như ngươi lấy tư cách gì mà đòi gặp ngài ấy!”
“…”
Trước lời nhục mạ ấy, Talhand vẫn giữ im lặng, lẳng lặng tháo vật sau lưng xuống.
Cởi bỏ lớp vải len thượng hạng, ngay khoảnh khắc thanh kiếm được rút khỏi vỏ, gã đàn ông kia đã phải thảng thốt nín bặt.
Một lưỡi kiếm mang sắc đen huyền bí đang hiện diện ở đó. Thứ sắc đen sâu thẳm tựa như hút trọn mọi luồng sáng, thế nhưng lại chẳng hề tỏa ra vẻ tà mị hay hèn mọn, ngược lại, nó còn toát lên khí chất oai phong và thanh tao đến lạ kỳ.
Một vẻ đẹp mị lực khiến người ta phải rùng mình.
“Đó là…?”
“Do chính tay ta rèn nên đấy.”
“Lố bịch…”
Nghề rèn của tộc Dwarf, mọi lời nói đều được minh chứng qua lưỡi kiếm. Một Dwarf xuất chúng sẽ rèn nên một thanh kiếm xuất chúng.
Bởi lẽ đó, gã không tài nào tin nổi cái tên Talhand kia lại có thể rèn ra tuyệt phẩm này.
“Ta muốn dâng lên ngài ấy.”
Khoáng Thần là một trong những danh xưng dành cho bậc thầy thợ rèn xuất chúng nhất thế giới, và cũng được coi là niềm kiêu hãnh của tộc Dwarf.
Mỗi khi các thợ rèn từ khắp nơi trên thế giới rèn được một kiệt tác để đời, vị Khoáng Thần ấy có nghĩa vụ phải trực tiếp giám định thành phẩm.
Dĩ nhiên, nếu chỉ là thứ rác rưởi nửa vời, nó sẽ bị những giám định viên tinh tường của tộc Dwarf Thợ Mỏ săm soi và loại bỏ ngay từ vòng ngoài.
Và gã đàn ông trước mắt Talhand đây, lại chính là một giám định viên như thế.
“…”
Gã đàn ông vốn chẳng ưa gì Talhand.
Nhưng thanh kiếm thì không biết nói dối. Thanh kiếm đen tuyền này không hề có chi tiết trang trí, cũng chẳng có vẻ gì là được áp dụng những kỹ thuật đặc thù.
Nhưng điều gã chắc chắn, là nó cực kỳ cứng. Gã có thể nhìn thấu được rằng, chỉ với mấy trận chiến cò con thì nó sẽ chẳng bao giờ sứt mẻ nổi.
Nói cách khác, đây chính là một báu vật. Phàm đã mang dòng máu Dwarf, gã tuyệt đối không được phép tự lừa dối bản thân trước thanh kiếm này.
“Ta cho phép. Ngươi đi đi, Talhand của Đại Phong Hùng Vĩ’.”
“Đa tạ. Dotle của Lưỡi Thép Cuồng Hỏa.”
Talhand xướng tên người anh em năm xưa của mình, khẽ cúi đầu, rồi tra kiếm vào vỏ, cẩn thận dùng vải len bọc lại và vác lên vai.
Trên dọc đường tiến đến nơi ở của Khoáng Thần, ông lại bị chặn đứng vài lần hệt như vậy.
Thế nhưng, cứ hễ nhìn thấy thanh kiếm, bất kỳ ai cũng phải thành kính nhường đường cho Talhand.
『Khoáng Thần』- Godbard của Đỉnh Cao Kiêu Hãnh đã trở nên già cỗi hơn đôi chút so với ký ức của Talhand.
Âu cũng là lẽ tự nhiên. Kể từ ngày Talhand dứt áo rời khỏi ngôi làng này, một khoảng thời gian đằng đẵng đã trôi qua rồi cơ mà.
“Anh già đi nhiều rồi nhỉ, Talhand.”
“Chú mày cũng vậy thôi.”
“Em còn tưởng anh đã bỏ mạng lây lất ở xó xỉnh nào rồi cơ đấy.”
“Ta đây vốn cũng định như vậy.”
Màn hỏi han ngắn gọn trôi qua. Túc trực bên hông Godbard là vợ và tâm phúc của cậu ta.
Bọn họ đang để lộ rõ sự cảnh giác trước màn trở về đột ngột của kẻ dị hợm nhất ngôi làng ngày ấy, thế nhưng giữa bầu không khí của Talhand và Godbard lại chẳng hề tồn tại chút căng thẳng nào.
Bởi lúc này đây, Talhand đang đối diện với Godbard bằng một cõi lòng vô cùng thanh thản.
“…”
“…”
Mặc dù vậy, ông cũng chẳng có ý định hàn huyên tâm sự gì với Godbard.
Chuyện để kể thì nhiều lắm. Như việc bản thân đã chứng kiến những gì ở thế giới bên ngoài, hay đã kinh qua bao nhiêu kiếp nạn chẳng hạn.
Thế nhưng, ông chẳng hề nói lời nào. Mọi ngôn từ giờ phút này là quá dư thừa. Talhand chỉ lẳng lặng vươn tay, trao thứ mình mang theo đến trước mặt Godbard.
Godbard cũng chẳng nói chẳng rằng, rút nhẹ thanh kiếm khỏi vỏ rồi quan sát lưỡi kiếm.
“…Ồ.”
Chỉ vừa liếc qua, Godbard đã không kiềm được mà thốt lên tiếng cảm thán.
Thanh hắc kiếm. Godbard nắm lấy nó, giơ lên trước ánh sáng để soi xét kỹ càng.
“Một thanh kiếm tốt, chất chứa trong nó một niềm tin mãnh liệt… Không một chút do dự hay ẻo lả, thế nhưng vẫn có thể nhìn thấy rõ sự non nớt ở vài chi tiết. Cho dù có dùng chung vật liệu và kỹ thuật chế tác, em chắc chắn vẫn có thể rèn ra một thanh kiếm có đẳng cấp cao hơn thế này nhiều.”
Nghe những lời bộc bạch ấy, khóe môi Talhand bất chợt vẽ lên một nụ cười.
Quá hiển nhiên. Cho dù Talhand có nỗ lực vùi mình vào lò rèn ngần ấy năm trời đi chăng nữa, thì cũng chẳng đời nào xách dép được cho vị Khoáng Thần đã liên tục mài giũa kỹ năng suốt hơn 100 năm ròng rã. Đó là một sự thật rành rành không thể chối cãi.
“…Khekhe.”
“Có gì đáng cười sao?”
Nhưng, điểm mấu chốt không nằm ở đó. Bản chất sự việc không nằm ở đó.
“Chú mày có muốn biết về vật liệu và kỹ thuật chế tác của nó không?”
“Em có hứng thú. Quả là một thanh kiếm đầy kỳ lạ.”
Chuyện dâng kiếm rồi thuật lại vật liệu cùng kỹ thuật chế tác cho Khoáng Thần vốn chẳng có gì là hiếm lạ.
Dẫu sao thì, mục đích lớn nhất của việc dâng kiếm cho Khoáng Thần chính là để lưu truyền cách chế tác của nó lại cho hậu thế. Dùng vật liệu gì, chế tác ra sao, đã bỏ ra bao nhiêu tâm tư công sức vào đó. Những kẻ muốn được ghi danh vào sử sách qua việc đó vốn dĩ có không ít.
“Nguyên liệu là khối đá được tạo ra từ Thổ ma pháp. Ta dùng Thổ ma pháp nghiền nó thành cát, rồi đem trộn lẫn với mạt sắt. Tiếp đó, ta dùng Hỏa ma pháp và Phong ma pháp để đẩy nhiệt độ lò lên rồi nung chảy hỗn hợp ấy. Phần còn lại thì cứ làm như bình thường thôi, vung búa nện rồi đem đi trui. À, trong lúc làm nguội thì ta có xài thêm Thủy ma pháp nữa.”
“Khối đá được tạo ra bằng Thổ ma pháp ư…”
Godbard cảm thấy cấn cấn trước câu nói ấy… rồi ngay lập tức chợt nhận ra.
Godbard biết phương pháp chế tác này. Hồi còn nhỏ, cậu đã từng được gã dị hợm đang đứng ngay trước mặt này chỉ dạy cho vài lần.
“Anh định trả đũa em đấy à?”
“Không đâu. Ta chỉ muốn dứt điểm hoàn toàn ân oán thuở xưa mà thôi.”
“…Anh nghĩ khi nhìn thấy thanh kiếm này, em sẽ bảo anh hãy quay về làng sao?”
“Không. Nhưng chú mày đã nói ra đúng cái câu mà ta luôn khao khát được nghe. Thế là quá đủ rồi.”
Chính nó, “Em chắc chắn vẫn có thể rèn ra một thanh kiếm có đẳng cấp cao hơn thế này nhiều.”
Chỉ một câu nói ấy thôi cũng đã đủ để khiến Talhand mãn nguyện. Ông cảm thấy như thể mọi uất ức kìm nén trong lòng từ thuở ấu thơ nay đã được trút bỏ hoàn toàn.
Ừ, phải rồi. Nếu Godbard cũng dùng chung thứ vật liệu ấy, áp dụng cùng một kỹ thuật ấy để rèn, thì chắc chắn kiệt tác làm ra sẽ có đẳng cấp vượt trội hơn hẳn.
Dĩ nhiên, nếu không xài ma pháp thì sao có thể nghiền nát được đá, và số thép đang nung đỏ rực kia đâu thể nào chỉ dùng chút nước lã mà làm nguội cho xong.
Đúng vậy, giả dụ như, không có sự trợ giúp của một kẻ đủ trình độ sử dụng ma pháp tương xứng thì…
Đương nhiên, nếu là vị thiên tài thợ rèn đang đứng ngay trước mặt đây, thì dẫu không cần phải dùng đến cái phương pháp y hệt như của Talhand, cậu ta hẳn vẫn sẽ biết cách xào nấu khối đá này ra trò.
“Vậy, cái thứ ‘đá’ đó, là tự tay anh tạo ra được sao, Talhand?”
“…Không. Người có thể tạo ra nó là con trai một người bạn của ta.”
Talhand lấy ra ba khối đá từ trong chiếc ba lô của mình.
Ông đặt chúng nằm ngay ngắn thành hàng trước mặt Godbard. Godbard vươn tay cầm lấy khối đá, và lập tức phải trố mắt kinh ngạc trước trọng lượng của nó. Rồi cậu ta thử đập vỡ nó để soi xét mặt cắt nhưng không thành, lại vác búa tạ ra định bổ đôi nó nhưng cũng chẳng ăn thua, để rồi phải bàng hoàng trước độ cứng rắn cùng sức dẻo dai ngoan cường của thứ quặng này.
Cùng lúc đó, trong đầu cậu ta trào dâng một ý nghĩ,nếu dùng thứ đá này để chế tác vũ khí và áo giáp thì sẽ thế nào đây.
Một nụ cười nở rộ trên môi Godbard.
Thấy biểu cảm đó, Talhand gật gù ra chiều đầy ưng ý.
Từ thuở nhỏ tới giờ, cái điệu bộ ấy của Godbard vẫn chẳng hề thay đổi, lúc nào cũng dễ đoán như in.
“Vài ngày nữa thôi, thằng nhóc đó sẽ vác mặt tới tìm chú mày đấy.”
“…”
“Chú mày chịu khó nể mặt ta mà gặp thằng nhóc đó một chuyến được chứ?”
Vừa mường tượng lại khuôn mặt của Rudeus, Talhand vừa cất lời bằng một chất giọng ôn hòa.
Mục đích của ông coi như đã hoàn thành. Lời nói muốn nghe từ người muốn gặp, ông cũng đã nhận được rồi.
Việc còn lại, chỉ là hoàn thành nốt lời cậy nhờ của gã trai đã mang đến cho ông cơ duyên này mà thôi.
“Chà, tuy trông tướng tá có hơi nhu nhược, lại còn mang theo một thỉnh cầu rắc rối chẳng ăn nhập gì với vẻ ngoài đó… Nhưng trái ngược với diện mạo ấy, nó là một gã cực kỳ có gan đấy. Gặp nó sẽ chẳng thiệt thòi gì cho chú mày đâu. Ta lấy thanh kiếm này ra để đảm bảo luôn.”
Godbard đưa mắt nhìn từ thanh kiếm sang khối đá để so đo.
Thấy vợ cùng gã tâm phúc đứng bên hông có vẻ như đang rục rịch muốn can ngăn, nhưng cậu ta chẳng hề có ý định lắng nghe ý kiến của họ.
Talhand đã lột xác đến mức khó tin. Một phần nguyên nhân làm nên chuyện đó hẳn là có liên quan đến vị ma pháp sư đã tạo ra thứ đá này.
Cậu ta bắt đầu cảm thấy hứng thú.
“Được thôi. Tên cậu ta là gì?”
“Rudeus Greyrat.”
“Hiểu rồi.”
Godbard gật đầu, khắc sâu cái tên ấy vào trong tâm trí.
Thấy vậy, Talhand liền đứng dậy.
Tuy chỉ là một giao kèo miệng, nhưng thế là quá đủ. Godbard không phải hạng người sẽ nuốt lời. Dẫu rằng thuở trước Talhand từng có cảm giác như mình bị thất hứa, nhưng thực chất cậu ta đâu có nuốt lời hứa nào.
Chẳng qua là do ngày ấy Talhand còn quá non nớt, và đã không biết lượng sức mình mà thôi.
“Anh đi sao?”
“Ừ.”
“Nếu là anh của hiện tại, sẽ chẳng có ai dám buông lời phàn nàn đâu.”
“Ta đã dựng một lò rèn tại Milishion rồi. Chắc ta sẽ chôn chân ở chốn ấy cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay thôi.”
Talhand buông lại một câu như thế, rồi bước chân rời khỏi dinh thự của Khoáng Thần. Chẳng biết tự bao giờ, những người anh em năm xưa đã kéo tới vây kín lấy xung quanh nơi ở của ngài.
Vô số ánh mắt sắc lẹm chĩa vào ông, trong số đó cũng chẳng thiếu những kẻ để lộ rõ sự khinh bỉ cợt nhả.
“Phiền mọi người, cho ta đi nhờ một chút.”
Ngay khi Talhand sải bước, đám đông liền tự động dạt ra nhường đường.
Dưới những ánh nhìn đan xen giữa sự lúng túng và bỉ bôi, Talhand cứ thế thẳng tiến ra khỏi làng.
Chẳng một ai cất lời gọi theo. Cũng chẳng một kẻ nào bám gót.
Chẳng hề gì nữa, bước chân của Talhand vô cùng nhẹ nhõm, và cõi lòng ông lúc này trong trẻo tựa mây trời.
Lời nguyền đeo bám ông bấy lâu, rốt cuộc cũng đã được hóa giải.
Chuyện Khoáng Thần chấp nhận bắt tay với Long Thần để đổi lấy một lượng lớn quặng đá, là chuyện của một tháng sau đó.


